Menu

📖 CHƯƠNG 5

~8 phút đọc1.634 từ5/7 chương

Nhị phu nhân có lẽ đã đoán ra được điều gì đó, nhưng nàng chẳng hé răng nửa lời, chỉ lặng lẽ xoay người cất bước.

Nàng không nói, ta cũng chẳng buồn hỏi.

Chỉ là nàng vẫn ngày ngày đắm chìm trong giấc mộng đẹp đẽ kia, tựa hồ như chẳng hề hay biết chuyện gì.

Dạo gần đây mọi chuyện chẳng mấy thái bình.

Thỉnh thoảng ta lại nghe hạ nhân kháo nhau, nào là Bắc Lương vương sắp dấy binh tạo phản, Hoàng đế phái năm ngàn tinh binh đi thảo phạt, kết quả bị đánh cho hồn xiêu phách lạc.

Cũng chỉ là những lời đồn thổi ngoài đường ngoài xá, ta rốt cuộc cũng chỉ là một con chim hoàng yến bị nhốt trong lồng son chốn hậu viện này mà thôi.

Vài ba câu chữ vụn vặt lọt ra từ miệng hạ nhân, lại trở thành thú tiêu khiển hiếm hoi của ta.

Thế nhưng đối với Thẩm lão gia, đây tuyệt chẳng phải chuyện tiêu khiển gì.

Thiên hạ loạn lạc, việc buôn b.á.n ở các cửa hiệu của ngài cũng theo đó mà lao đao.

Đã hơn hai mươi ngày liền ngài không màng đến việc dán chữ Phúc, mà chỉ trốn lỳ trong thư phòng, bàn bạc những tin tức cơ mật.

Mãi cho đến ngày cuối cùng, bọn họ rốt cuộc cũng bàn ra được kết quả.

Có vị cao nhân chỉ điểm rằng:

“Chính là bức tượng gỗ của tôn phu nhân đã phá hỏng phong thủy."

Thẩm lão gia cả mừng, vội vàng cất tiếng hỏi cao nhân cách hóa giải.

Cao nhân tiếp tục chỉ bảo:

“Tôn phu nhân sau khi tạ thế có phần không được an phận, dẫn đến việc trong phủ gia tăng xúi quẩy. Cần phải đem tượng gỗ của tôn phu nhân yểm dưới ngưỡng cửa chính của phủ, để ngàn người bước qua, vạn người giẫm đạp, như thế mới mong đánh tan được oán khí."

Thẩm lão gia có chút chần chừ hỏi:

“Vậy Uyển Chi có thấy đau không?"

Cao nhân gõ gõ chiếc mõ gỗ trên tay, chẳng buồn đáp lời.

Ta lén lút nấp ngoài cửa nghe trộm, cõi lòng chợt dâng lên một cỗ lạnh lẽo.

Trước kia ta từng nghe người ta bảo, con người sau khi thác đi sẽ có hồn phách, nếu mãi vẫn chưa chịu đi đầu thai, ắt hẳn là vì vẫn còn tâm nguyện chưa tròn.

Đại phu nhân vẫn còn vất vưởng nơi đây sao? Là vì không nỡ buông bỏ Thẩm lão gia ư.

Nếu người biết bản thân sắp bị ngàn người bước qua, vạn người giẫm đạp, liệu người có khóc không?

Người dịu dàng là thế, ngây thơ thuần khiết là thế.

Thẩm lão gia bắt đầu động thổ.

Người qua kẻ lại hiếu kỳ dò hỏi cơ sự, Thẩm lão gia bèn rơi lệ giải thích.

"Ái thê tạ thế rồi nhưng vẫn quyến luyến không nỡ rời xa, vì muốn nàng sớm ngày siêu thoát đầu thai, ta đành phải cắn răng làm vậy."

Thiên hạ ai nấy đều tấm tắc ngợi khen Thẩm lão gia, bảo ngài là người trọn tình trọn nghĩa.

Đồ dối trá.

Sau khi công trình hoàn tất, khách khứa đến bái phỏng tấp nập không ngớt.

Đám khách nhân còn đặt cho Đại phu nhân một cái mỹ danh, gọi là "Hậu Kỵ phu nhân".

Nhưng chữ "Hậu kỵ" này chẳng phải mang ý nghĩa cao nhã như trong câu thơ "Tiêu quan phùng hậu kỵ" (Đến Tiêu quan gặp lính thú cưỡi ngựa đi tuần).

Đó chẳng qua chỉ là cớ để đám khách nhân tự tô vẽ thêm chút thể diện cho chính bản thân mình mà thôi —— Đại phu nhân là một nữ quỷ kiều diễm như thế, ắt phải đợi thiết kỵ thấm m.á.u đến giẫm đạp thì mới mong được giải thoát.

Còn bọn họ, chính là những vị anh hùng lẫm liệt đại nghĩa đến để cứu rỗi đó.

Thật nực cười xiết bao.

Vào ngày sinh thần của Thẩm lão gia, mọi người hoan hỉ tề tựu một đường.

Thế nhưng khi tiệc tối mới diễn ra được một nửa, tờ giấy ghi bài thơ tình trong tay áo Nhị phu nhân chợt rơi ra ngoài.

Đám hạ nhân tinh mắt, lập tức nhặt lên rồi như tranh công mà dâng tấu cho ngài.

Trong phòng chốc lát tĩnh lặng như tờ, chỉ còn lại Nhị phu nhân môi run bần bật, hai hàm răng đánh bò cạp vào nhau.

Thẩm lão gia cười ha hả nhận lấy, cứ ngỡ đó là bài tiểu phú mà Nhị phu nhân làm để dâng tặng ngài.

Nhưng vừa mới mở ra xem, nụ cười trên môi ngài liền vụt tắt.

Ngài ngước mắt đưa nhìn một vòng xung quanh, gượng gạo duy trì ý cười, phất tay đuổi hết đám hạ nhân lui ra.

Nhị phu nhân run rẩy sợ hãi quỳ sụp xuống đất.

Gân xanh trên trán Thẩm lão gia giật liên hồi, ngài vươn tay bóp chặt lấy hai má của Nhị phu nhân.

Những giọt lệ nóng hổi của Nhị phu nhân rơi lã chã xuống cổ tay ngài.

Ngài hoàn toàn chẳng mảy may bận tâm, chỉ nghiến răng nghiến lợi gằn giọng hỏi nàng:

“Ta đối xử với ngươi không tốt sao?"

Tam phu nhân vội vã lên tiếng thanh minh giúp:

“Lão gia, bức thư đó thực ra..."

Thẩm lão gia vung tay đẩy mạnh Tam phu nhân ra, ta cuống cuồng tiến lên đỡ lấy nàng.

Chúng ta chìm trong sự trầm mặc và sợ hãi khôn cùng mà nhìn ngài.

Đó là lần đầu tiên ta trực diện đối mặt với một nam nhân đang cuồng nộ.

Trông ngài mới đáng sợ làm sao, thế nhưng chính sự bất lực trước việc không thể thao túng được lòng người, lại khiến cái vẻ hung tợn ấy lộ rõ bản chất hèn kém và mục rỗng bên trong.

Ngài quyết định, sẽ đem Nhị phu nhân đi dìm lồng heo trước bàn dân thiên hạ.

Địa điểm được chọn, chính là nơi dòng Trường Giang cuồn cuộn chảy trôi.

Ngày Nhị phu nhân bị dìm lồng heo, gió gào thét từng cơn dữ dội.

Ta và Tam phu nhân bị lệnh bắt buộc phải đến tận nơi chứng kiến, ta nghĩ đây chính là chiêu "g.i.ế.c gà dọa khỉ” của lão gia.

Trước lúc đi, Tam phu nhân quỳ sụp trước cửa thư phòng, tiếng tiếng khóc than rơi lệ.

"Lão gia, bài thơ đó, là do thiếp viết mà!

"Là thiếp không tốt, cảm thấy chốn thâm viện tịch liêu, mới mượn bút giải sầu!

"Nhị phu nhân hoàn toàn vô tội, cầu xin ngài thả nàng ấy ra, bắt ta đi. Thiếp cầu xin ngài! Thiếp dập đầu tạ tội với ngài!"

Kẻ trong phòng vẫn lạnh lùng không mảy may động tâm.

Lúc đến tiễn Nhị phu nhân, Tam phu nhân diện một thân hồng y, tà áo tung bay phấp phới, tựa như cành hoa đào giữa ngày xuân.

Thừa dịp Thẩm lão gia không để mắt tới, chúng ta lén lút chạy ào sang.

Trong tay áo Nhị phu nhân đã chẳng còn bài thơ tình mà nàng cất giấu nữa, nàng bị lột sạch y phục, để trần thân thể trụi lủi giữa thanh thiên bạch nhật.

Đám người xung quanh ra vẻ đạo mạo quay đầu đi chỗ khác, nhưng thực chất khóe mắt đều đang lén lút nhìn trộm thân hình nàng.

Tam phu nhân nhẹ nhàng nắm lấy tay nàng, vành mắt đỏ hoe khẽ khàng nức nở.

Nàng hỏi:

“Khinh Dung, ngươi rõ ràng đã đoán ra được, bài thơ đó là do ta viết."

Nhị phu nhân lắc đầu, nàng đáp:

“Nhưng người ta yêu không phải là ngươi, ngươi biết mà."

Chúng ta đều biết.

Bài thơ tình ấy là chút ánh sáng le lói hiếm hoi trong cả một kiếp làm nô làm tỳ của Nhị phu nhân.

Nàng từng tiếp xúc với không biết bao nhiêu nam nhân, kẻ vì tiền, người vì sắc, tuyệt nhiên chẳng có lấy một ai vì tình yêu mà đến.

Đây là lần đầu tiên nàng được chạm tay vào một tình cảm mãnh liệt đến thế.

Thực ra ai viết bài thơ ấy chẳng quan trọng, là nam hay nữ cũng chẳng quan trọng, là Tam phu nhân hay gã lãng tử bôn ba nào đó cũng chẳng màng. Nàng chỉ là đã đem lòng yêu cái người trong mộng do chính bản thân tưởng tượng ra.

Chỉ vậy mà thôi.

Nhị phu nhân bám chặt lấy chiếc lồng, tựa như một cánh bướm bị giam cầm, bị cơn gió tháng ba thổi cho lảo đảo chực ngã.

Nàng ngẩng đầu nhìn trời cao, khẽ khàng buông tiếng thở dài:

“Lạnh quá."

Lý trưởng lớn tiếng chỉ huy đám phu dịch cao to vạm vỡ, khiêng chiếc lồng heo lên, ném thẳng xuống dòng nước.

Nhị phu nhân cứ như đang ngồi trong cỗ kiệu hoa, hệt như một tân nương tử, được đưa rước đến tận tay phu quân của mình.

Một tiếng lệnh hạ xuống, nàng rơi tõm vào dòng Trường Giang sâu thẳm vô tận, chỉ để lại một tiếng "tùm" bọt nước.

Nàng rốt cuộc đã được toại nguyện cùng người mình yêu chung uống dòng nước Trường Giang.

Ta và Tam phu nhân siết chặt lấy tay nhau, đưa mắt tiễn nàng trở thành tân nương của chính mình.

Trên bờ sương mai đọng nặng hạt, hoa cỏ vươn mình, bừng bừng sinh cơ.

Mùa xuân đã vào độ chín muồi.

HomeTrước
Sau